CON TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHƯA CÓ VIỆC LÀM: KHI NÀO ĐƯỢC TÍNH GIẢM TRỪ GIA CẢNH?
Trong quá trình kê khai và quyết toán thuế thu nhập cá nhân, người phụ thuộc là một trong những vấn đề được nhiều người nộp thuế quan tâm. Đặc biệt, trường hợp con đã thành niên, đã tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm thường đặt ra câu hỏi: cha, mẹ có tiếp tục được đăng ký con là người phụ thuộc để hưởng giảm trừ gia cảnh hay không?
Người phụ thuộc được xác định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 về giảm trừ gia cảnh định nghĩa về người phụ thuộc như sau: “Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
- Con chưa thành niên;
- Con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
- Con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định;
- Một số trường hợp khác như vợ, chồng không có khả năng lao động; cha, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; người không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Như vậy, đối với con đã thành niên, việc xác định có phải là người phụ thuộc hay không phải dựa trên từng trường hợp mà pháp luật quy định, chứ không chỉ căn cứ vào việc người con hiện có thu nhập hay không.
Con đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm có được tính là người phụ thuộc?
- Đối với con đã thành niên nhưng vẫn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề, pháp luật cho phép xác định là người phụ thuộc nếu đáp ứng điều kiện về thu nhập.
Theo Điều 3 Thông tư 87/2026/TT-BTC quy định về mức thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế được áp dụng giảm trừ gia cảnh như sau: Mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập của người phụ thuộc thuộc trường hợp này không vượt quá 03 triệu đồng/tháng.
Điểm cần đặc biệt lưu ý là điều kiện “không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá 03 triệu đồng/tháng” phải được xem xét cùng với điều kiện “đang học” đối với nhóm đối tượng này.
Như vậy, trường hợp người con đã tốt nghiệp, không còn học tập, có đầy đủ khả năng lao động nhưng chưa tìm được việc làm thì việc chưa có thu nhập không phải là căn cứ để cha, mẹ tiếp tục đăng ký người này làm người phụ thuộc.
- Nếu con đã thành niên, đã tốt nghiệp nhưng thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, là người khuyết tật hoặc không có khả năng lao động, thì có thể được xác định là người phụ thuộc theo quy định pháp luật, không phụ thuộc vào việc người này có đang đi học hay không.
Đây là trường hợp mà cha, mẹ cần chuẩn bị các giấy tờ chứng minh phù hợp để làm căn cứ đăng ký người phụ thuộc theo quy định về hồ sơ giảm trừ gia cảnh.
Kê khai sai người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh sẽ bị xử lý như thế nào?
Không phải mọi trường hợp kê khai sai người phụ thuộc đều áp dụng cùng một mức phạt. Việc xử lý phụ thuộc vào hậu quả của hành vi và thời điểm người nộp thuế khắc phục.
1. Trường hợp 1: Người nộp thuế tự phát hiện và điều chỉnh trước khi cơ quan thuế phát hiện
Theo khoản 3 Điều 9 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, quy định về những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn như sau:
“3[24]. Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.”
Việc khai bổ sung và nộp thuế được thực hiện trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện sai phạm.
Như vậy, nếu cá nhân chủ động phát hiện việc kê khai sai người phụ thuộc, kịp thời điều chỉnh hồ sơ và nộp đủ nghĩa vụ thuế trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện thì có thể không bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, cá nhân vẫn phải nộp đủ số thuế còn thiếu và tiền chậm nộp theo quy định.
Trường hợp 2: Kê khai sai làm thiếu số thuế phải nộp và bị cơ quan thuế phát hiện
Theo Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, quy định về xử phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn như sau:
“Điều 16. Xử phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn
1. Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn so với quy định đối với một trong các hành vi sau đây:
[…] c) Khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính xác định là hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế vi phạm hành chính lần đầu về hành vi trốn thuế đã khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và cơ quan thuế đã lập biên bản ghi nhận để xác định là hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế; […]
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn, miễn, giảm cao hơn quy định và tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.
Trường hợp đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn, miễn, giảm cao hơn quy định và tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này;
b) Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ chuyển kỳ sau (nếu có) đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này. […]”
Như vậy, người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp có thể bị xử phạt hành chính mức phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn so với quy định. Ngoài ra, người nộp thuế còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:
- Nộp đủ số tiền thuế thiếu;
- Nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế thiếu.
Kết luận
Việc xác định người phụ thuộc để hưởng giảm trừ gia cảnh cần được thực hiện đúng đối tượng và đúng điều kiện pháp luật, không nên chỉ dựa vào thực tế người con “chưa đi làm” hoặc “chưa có thu nhập”.
Đối với con đã thành niên, đã tốt nghiệp, không còn học tập và có khả năng lao động bình thường, việc chưa tìm được việc làm không phải là căn cứ để cha, mẹ đương nhiên được tiếp tục tính giảm trừ gia cảnh.
Ngược lại, nếu người con vẫn đang học và đáp ứng điều kiện về thu nhập, hoặc thuộc trường hợp không có khả năng lao động theo quy định, thì có thể được xác định là người phụ thuộc nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
