NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ KHI PHẠM TỘI TẠI VIỆT NAM?
Quá trình hội nhập quốc tế và sự gia tăng các hoạt động đầu tư, thương mại, du lịch đã kéo theo số lượng người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc ngày càng lớn. Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, thực tiễn cũng phát sinh nhiều vụ việc người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí thực hiện các tội phạm trên lãnh thổ Việt Nam. Từ đó đặt ra vấn đề pháp lý được nhiều người quan tâm: người nước ngoài khi phạm tội tại Việt Nam sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam hay pháp luật của quốc gia mà họ mang quốc tịch? Việc áp dụng trách nhiệm hình sự có gì khác biệt so với công dân Việt Nam?
Người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam có bị xử lý theo pháp luật Việt Nam không?
Nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015 là mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Hình sự Việt Nam, không phụ thuộc vào quốc tịch của người thực hiện hành vi. Cụ thể:
“Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.”
Điều đó có nghĩa, người nước ngoài nếu thực hiện hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm tại Việt Nam sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự như công dân Việt Nam và bị điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Nguyên tắc này thể hiện nguyên tắc lãnh thổ trong pháp luật hình sự, nhằm bảo đảm chủ quyền quốc gia và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hành vi xâm phạm trật tự pháp luật xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
Có được miễn trách nhiệm hình sự vì là người nước ngoài?
Quốc tịch nước ngoài không phải là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự. Khi đủ căn cứ xác định có hành vi phạm tội, người nước ngoài vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tội danh đã thực hiện.
Ngoài các hình phạt chính, trong một số trường hợp, người nước ngoài còn có thể bị áp dụng hình phạt trục xuất theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là hình phạt buộc người bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quyết định của Tòa án.
Trường hợp nào không áp dụng trực tiếp pháp luật hình sự Việt Nam?
Mặc dù nguyên tắc chung là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tuy nhiên pháp luật Việt Nam vẫn ghi nhận ngoại lệ đối với người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc miễn trừ lãnh sự.
Theo khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu người phạm tội thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ theo điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao, cụ thể:
“Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”
Kết luận
Việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người nước ngoài thể hiện nguyên tắc mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, đồng thời khẳng định quyền tài phán của Việt Nam đối với các hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ quốc gia.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải bảo đảm đầy đủ các quyền tố tụng của người bị buộc tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các điều ước quốc tế có liên quan, như quyền được phiên dịch, quyền thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia mà họ mang quốc tịch và các quyền bào chữa khác theo quy định của pháp luật.
Người nước ngoài khi sinh sống, làm việc hoặc du lịch tại Việt Nam có quyền được pháp luật Việt Nam bảo vệ nhưng đồng thời cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Việt Nam. Việc mang quốc tịch nước ngoài không đồng nghĩa với việc được miễn trừ trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt liên quan đến quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc miễn trừ lãnh sự, việc xử lý mới được thực hiện theo cơ chế riêng trên cơ sở pháp luật quốc tế và các điều ước mà Việt Nam là thành viên.
