CHE GIẤU TỘI PHẠM: KHI HÀNH ĐỘNG VÌ TÌNH CẢM CÓ THỂ DẪN ĐẾN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Trong thực tiễn, không ít người cho rằng việc che giấu người thân, bạn bè hoặc người quen sau khi họ thực hiện hành vi phạm tội chỉ xuất phát từ tình cảm cá nhân và sẽ không bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, những hành vi như giấu người phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, che giấu tang vật hoặc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm cản trở hoạt động điều tra có thể cấu thành Tội che giấu tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là một trong những tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, từ đó làm suy giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thế nào là hành vi che giấu tội phạm?
Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015 định nghĩa về “che giấu tội phạm” như sau:
“Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.”
Dấu hiệu “không hứa hẹn trước” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định tội. Nếu giữa người thực hiện hành vi che giấu và người phạm tội đã có sự bàn bạc, thống nhất hoặc hứa hẹn giúp sức trước khi tội phạm xảy ra thì hành vi đó không còn được xem là che giấu tội phạm mà có thể bị xem xét với tư cách đồng phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Những hành vi nào có thể bị coi là che giấu tội phạm?
Trong thực tiễn, hành vi che giấu tội phạm không chỉ dừng lại ở việc cất giấu người phạm tội mà còn bao gồm nhiều hành vi khác nhằm cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, chẳng hạn như:
- Che giấu, chứa chấp người phạm tội để tránh bị phát hiện;
- Tiêu hủy, cất giấu hoặc làm sai lệch chứng cứ, tang vật liên quan đến vụ án;
- Cung cấp thông tin gian dối, tạo chứng cứ giả hoặc khai báo sai sự thật nhằm đánh lạc hướng cơ quan điều tra;
- Tạo điều kiện để người phạm tội bỏ trốn hoặc trốn tránh việc thi hành án;
- Dùng mọi thủ đoạn cản trở việc phát hiện, điều tra hoặc bao che người phạm tội. Tức là thực hiện các hành vi gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra của các cơ quan có thẩm quyền như cung cấp thông tin giả để đánh lạc hướng điều tra, gây mất điện để gây khó khăn khi khám nghiệm hiện trường,…
Che giấu các tội phạm được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015. Gồm các điều:
- Điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121.
- Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3, Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154.
- Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178.
- Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và 3 Điều 219, khoản 2 và 3 Điều 220, khoản 2 và 3 Điều 221, khoản 2 và 3 Điều 222, khoản 2 và 3 Điều 223, khoản 2 và 3 Điều 224, khoản 2 và 3 Điều 243.
- Các Điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các Điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259.
- Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và 3 Điều 329.
- Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và 3 Điều 329.
- Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365.
- Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386;
- Các Điều 421, 422, 423, 424, 425.
Chế tài đối với tội che giấu tội phạm
Theo Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội có thể bị:
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
- Phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Đối với trường hợp người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực TNHS và đủ 16 tuổi trở lên.
Lưu ý, người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự về hành vi che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kết luận
Tội che giấu tội phạm là cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng pháp luật. Do đó, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ ranh giới giữa việc hỗ trợ người thân trong khuôn khổ pháp luật và hành vi che giấu tội phạm. Lựa chọn đúng đắn không chỉ góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân mà còn thể hiện trách nhiệm của công dân trong việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thượng tôn pháp luật.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
