Giám định kết luận chữ ký không trùng khớp, di chúc có còn giá trị pháp lý?
Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, không ít trường hợp tính hợp pháp của di chúc bị đặt dấu hỏi khi kết quả giám định cho thấy chữ ký trên di chúc không trùng khớp với chữ ký mẫu của người lập di chúc. Điều này khiến nhiều người cho rằng chỉ cần có sự khác biệt về chữ ký thì bản di chúc sẽ đương nhiên bị tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, đây là quan điểm chưa đầy đủ. Kết luận giám định chữ ký chỉ là một trong những nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét và không phải là căn cứ duy nhất quyết định hiệu lực của di chúc.
Di chúc là gì?
Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) có định nghĩa về di chúc như sau:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
Theo đó, di chúc có thể được hiểu là một bằng chứng ghi lại ý chí, tâm nguyện cuối cùng của một người để định đoạt tài sản của người đó sau khi qua đời cho người khác.
Vì vậy, việc di chúc được xác định là hợp pháp và đáp ứng điều kiện có hiệu lực hay không mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chia di sản thừa kế của người lập di chúc sau khi người đó qua đời.
Các trường hợp di chúc vô hiệu
Di chúc vô hiệu được hiểu là di chúc không có hiệu lực pháp luật. Tùy trường hợp luật định, di chúc có thể vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi không đáp ứng được các điều kiện để di chúc hợp pháp hoặc rơi vào các trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật.
Vậy trường hợp nào di chúc vô hiệu toàn bộ?
Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 về các trường hợp di chúc hợp pháp như sau:
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”
Từ quy định trên, di chúc phải đáp ứng đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức thì mới được xem là di chúc hợp pháp, nếu không đáp ứng được một trong các điều kiện trên thì bị coi là vô hiệu. Cụ thể, các trường hợp di chúc bị vô hiệu toàn bộ như sau:
- Chủ thể: tại thời điểm lập di chúc người lập di chúc không đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự; không tự nguyện, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
- Nội dung: toàn bộ nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;
- Hình thức: di chúc không đáp ứng đủ các điều kiện về mặt hình thức để trở thành di chúc hợp pháp.
Căn cứ quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 về hiệu lực của di chúc, theo đó di chúc vô hiệu toàn bộ các trường hợp sau:
- Toàn bộ người thừa kế đều đã mất vào thời điểm mở thừa kế và không có người thừa kế kế vị. Người thừa kế có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức. Nếu là cơ quan, tổ chức thì không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Toàn bộ di sản thừa kế để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
- Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực, những bản di chúc trước đó đều vô hiệu toàn bộ.
Các trường hợp di chúc vô hiệu một phần?
- Theo quy định tại khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, nếu bản di chúc đáp ứng hết các điều kiện để di chúc hợp pháp nhưng trong di chúc có một phần nội dung không hợp pháp thì chỉ phần di chúc không hợp pháp này bị vô hiệu, phần nội dung còn lại vẫn có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.
- Trường hợp di sản để lại cho người thừa kế nhưng trong đó chỉ có một phần di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ nội dung phân chia di sản đó bị vô hiệu, các phần di sản thừa kế còn lại vẫn có hiệu lực pháp luật.
Giám định kết luận chữ ký không trùng khớp (chữ ký của người để lại di chúc và chữ ký mẫu không giống nhau) thì di chúc có còn giá trị pháp lý không?
- Khi phát sinh tranh chấp về thừa kế theo di chúc, giám định chữ ký là một trong những hoạt động tố tụng quan trọng nhằm xác định chữ ký trên bản di chúc có phải do chính người lập di chúc thực hiện hay không, đồng thời làm rõ các dấu hiệu giả mạo, sao chép, cắt ghép, tẩy xóa hoặc bị tác động bằng các phương pháp kỹ thuật khác. Kết quả giám định có ý nghĩa quan trọng trong việc xác minh tính xác thực của di chúc và là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, đánh giá khi giải quyết vụ án.
- Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, kết luận giám định là một nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, giá trị chứng minh của kết luận này chỉ được thừa nhận khi việc thực hiện giám định và ban hành kết luận tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc chữ ký trên di chúc không trùng khớp với chữ ký mẫu không đồng nghĩa với việc di chúc đương nhiên bị vô hiệu.
- Trên thực tế, chữ ký của một cá nhân có thể thay đổi theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan như tuổi tác, tình trạng sức khỏe, bệnh lý, khả năng vận động của bàn tay hoặc điều kiện thực hiện việc ký. Do đó, sự khác biệt giữa chữ ký trong di chúc và chữ ký mẫu chỉ là một tình tiết cần được xem xét, chứ không phải căn cứ duy nhất để phủ nhận giá trị pháp lý của bản di chúc.
- Bên cạnh đó, để xác định một bản di chúc có hợp pháp hay không, Tòa án không chỉ căn cứ vào kết luận giám định chữ ký mà còn phải đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đồng thời đối chiếu với các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm năng lực của người lập di chúc, sự tự nguyện khi lập di chúc, nội dung và hình thức của di chúc.
- Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh chữ ký trên di chúc là giả mạo, không phản ánh đúng ý chí của người lập di chúc hoặc bản di chúc vi phạm nghiêm trọng các điều kiện về chủ thể, nội dung hoặc hình thức theo quy định của pháp luật, thì đây mới là cơ sở để Tòa án xem xét tuyên bố di chúc vô hiệu.
- Ngoài ra, trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định chưa khách quan, chưa rõ ràng hoặc việc giám định được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục pháp luật, Tòa án có quyền không sử dụng kết luận đó làm căn cứ giải quyết vụ án, đồng thời có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo quy định.
Có thể thấy, kết luận giám định xác định chữ ký trong di chúc không giống với chữ ký mẫu chỉ là một trong nhiều chứng cứ cần được xem xét. Đây không phải là căn cứ mặc nhiên để tuyên bố di chúc vô hiệu. Giá trị pháp lý của một bản di chúc chỉ được xác định sau khi Tòa án đánh giá toàn diện toàn bộ chứng cứ và các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của pháp luật.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
